Giỏ hàng

Bài 1. Hợp đề biện chứng: Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia và năng lực cạnh tranh

Đây là bài viết đầu tiên thuộc chủ đề “Sự phát triển biện chứng của hệ thống pháp luật” mở đầu đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu pháp luật Việt  Nam thời kỳ TPP” do Intergogo www.intergogo.com đầu tư phát triển.

 

Phép biện chứng là một trong những phương pháp luận căn bản đóng vai trò then chốt trong nghiên cứu triết học cũng như thực tiễn quy hoạch, kiến trúc và thiết kế hệ thống pháp luật các quốc gia ngày nay. Hai nhà triết học hiện đại tiêu biểu cho xu hướng vận dụng phép biện chứng là G.F.Hegel (1770-1831) và K.Marx (1818 – 1883).

Khi nghiên cứu thế giới tự nhiên và xã hội, phép biện chứng đặt sự vật – hiện tượng trong hệ sinh thái tổng hòa các mối quan hệ tương tác đa chiều mà trong đó tư duy con người phát triển theo bộ ba (Triad) là Chính Đề (Thesis), Phản Đề (Antithesis) và Hợp Đề (Synthesis). Lập luận chủ quan về sự vật – hiện tượng tất yếu làm phát sinh Chính Đề – một ý tưởng, một mệnh đề nào đó – và Chính Đề này tất yếu có nhiều điểm chưa cân bằng cho nên từ đó tự nhiên lại làm  phát sinh ra Phản Đề đối ứng nhằm phủ định Chính Đề. Mâu thuẫn giữa Chính Đề – Phản Đề đối ứng như vậy sẽ sinh ra Hợp Đề vừa bảo tồn được tinh hoa , vừa khắc phục được hạn chế của cả Chính Đề và Phản Đề. Hợp Đề này, đến lượt nó, lại trở thành Chính Đề mới và chu trình bộ ba nêu trên tuần hoàn không ngừng. Nhờ vậy mà tư duy của con người phát triển không ngừng dẫn đến xã hội liên tục thay đổi không ngừng. Đó là biện chứng và Hợp Đề chính là then chốt của tư duy biện chứng.

Ứng dụng phép biện chứng vào thực tiễn lập pháp và hành pháp cho thấy biến chuyển của hệ thống pháp luật thể hiện dòng chảy phát triển liền mạch thông suốt quá khứ, hiện tại và tương lai của đất nước nói chung và của nền kinh tế quốc gia nói riêng. Bài viết này mở đầu đề tài nghiên cứu vận dụng phép biện chứng trong nghiên cứu tương quan giữa sự phát triển của hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế với năng lực cạnh tranh của nhân lực Việt Nam thời kỳ Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership  – sau đây được viết tắt là TPP).

Một trong những phần trọng yếu nhất của kết quả năng lực lao động được cụ thể hóa bằng quyền sở hữu tài sản, một quyền công dân căn bản. Tại Việt Nam, quyền sở hữu tài sản xét trong phạm vi tương quan với năng lực lao động được quy định như sau:

Hiến pháp năm 2013

Chương III. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Điều 15: 1. Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân.

Điều 32: 1. Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác.” và

Điều 35: 1. Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc.

Bộ luật Dân sự năm 2015

Chương II. Xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền dân sự

Điều 8: Căn cứ xác lập quyền dân sự

4. Kết quả của lao động, sản xuất, kinh doanh; kết quả của hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ” và

Chương XI. Quy định chung về Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản.

Mục 1. Nguyên tắc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

Điều 158: Quyền sở hữu

Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật

Nghĩa vụ và quyền quy định trong Hiến pháp và Bộ Luật Dân sự như trên là điều kiện tham gia thị trường lao động hợp pháp, hợp lệ. Và trong thị trường lao động, mỗi công dân, mỗi pháp nhân luôn theo đuổi hệ thống Chính Đề – Phản Đề hình thành và phát triển trên cơ sở năng lực và nhu cầu đặc thù. Thông qua quá trình vận động Chính Đề – Phản Đề như vậy, nếu muốn tối đa hiệu suất đầu tư, mỗi cá nhân, tổ chức cần khám phá Hợp Đề tương ứng nhằm phát triển năng lực lao động đến mức trở thành lợi thế cạnh tranh.  Xét trên quy mô toàn xã hội, thông qua hệ thống pháp luật, Nhà nước trong vai trò đơn vị điều hành nền kinh tế có nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên và liên tục ban hành và kiểm soát thực hiện hệ thống Hợp Đề hợp pháp, hợp lý cho các cá nhân và tổ chức tham gia thị trường lao động. Như vậy, có thể thấy rằng, từ góc độ lý luận, Hợp Đề chính là điều quyết định lợi thế cạnh tranh của một cá nhân, một tổ chức và hơn nữa là toàn thể quốc gia.

 

Chương trình Quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020 được phê duyệt theo Quyết định số.2457/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2010 và Chương trình Đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020 được phê duyệt theo Quyết định số.677/QĐ-TTg ngày 10 tháng 05 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ nhằm xây dựng và thực hiện lộ trình nâng cao năng lực công nghệ quốc gia là hai ví dụ điển hình về Hợp Đề. Xét trên tầm nhìn quốc tế, chủ trương công nghệ cao này phù hợp với xu hướng phát triển nhân lực STEM và STEAM trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa đa phương mà Hiệp định TPP nêu trên là minh chứng. Hình thức và tính chất của Hợp Đề  chú trọng phát triển công nghệ này được thể hiện rõ nét qua Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia www.natif.vn (sau đây viết tắt là Quỹ) được thành lập theo Quyết định số.1342/QĐ-TTg ngày 05 tháng 08 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ nhằm tập trung đầu tư hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm, hoàn thiện, đổi mới và chuyển giao công nghệ.

Đối tượng nhận và sử dụng thành công tài trợ từ Quỹ có nghĩa vụ thống nhất lợi thế cạnh tranh cá thể của cá nhân, tổ chức với năng lực cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế quốc gia. Trong quá trình hoạt động của đối tượng này tự nhiên sẽ làm phát sinh hàng loạt cặp Chính Đề – Phản Đề làm cơ sở biện chứng để Nhà nước nghiên cứu ban hành Hợp Đề thế hệ tiếp theo.

Ứng dụng Hợp Đề trong phép tư duy biện chứng đối với  vấn đề hiểu biết, tuân thủ và tôn trọng luật pháp quốc gia và quốc tế cũng là tinh thần chủ đạo và nguyên tắc xuyên suốt của Hiệp định TPP, thể hiện đặc biệt rõ nét qua mục tiêu tự do hóa di chuyển lao động quốc tế (Human Capital Mobility) trong toàn bộ nội dung Hiệp định và qua cơ chế vận hành của hội đồng trọng tài quy định tại Chapter 9.Investment. Section B. Investor-State Dispute Settlement và Chapter 28.Dispute Settlement. Như vậy, tư duy biện chứng, một phần di sản của chủ nghĩa Marx-Lenin, không chỉ phát huy tác dụng mạnh mẽ trong phạm vi quốc gia mà trên bình diện quốc tế còn có thể giúp các quốc gia với nhiều điểm khác biệt về thể chế chính trị và trình độ phát triển kinh tế hợp tác toàn diện và công bằng.

Nhằm xây dựng cơ sở thông tin và lý luận nghiên cứu năng lực cạnh tranh của nhân lực Việt Nam thời kỳ TPP thông qua sự phát triển của hệ thống pháp luật quốc gia, Intergogo www.intergogo.com sẽ thực hiện loạt bài phỏng vấn với câu hỏi như sau:

Câu hỏi: Ý kiến của ông/bà về ứng dụng quan điểm “Hoàn thành nghĩa vụ công dân trong quá trình hiểu biết – tuân thủ – tôn trọng pháp luật là điều kiện cần và đủ để người lao động khám phá và phát triển năng lực cạnh tranh” trong i) Thực tiễn công việc của ông/bà ii) Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia iii) Cộng đồng các quốc gia thành viên Hiệp định TPP.

Trả lời:

Chủ đề “Sự phát triển biện chứng của hệ thống pháp luật” mở đầu đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu pháp luật Việt  Nam thời kỳ TPP” do Intergogo www.intergogo.com đầu tư phát triển sẽ được tiếp nối với Bài 2. trình bày nghiên cứu về nghĩa vụ công dân và nghĩa vụ quốc gia trong việc hiểu biết, tuân thủ và tôn trọng pháp luật và Bài 3. trình bày nghiên cứu về quan điểm và hành động tương ứng của các quốc gia thành viên Hiệp định TPP.

Ý kiến nhận xét và đóng góp về bài viết và đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu pháp luật Việt Nam thời kỳ TPP” xin gửi về địa chỉ e-mail: thunx@intergogo.com

 
Chương trình Hỗ trợ du học
www.hotroduhoc.vn